Tìm kiếm theo cụm từ
Chi tiết đề tài

Thông tin chung

Tên đề tài (*) Ảnh hưởng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới bất bình đẳng thu nhập nông thôn - thành thị tại Việt Nam
Cơ quan chủ trì Đại học Thái Nguyên
Cơ quan thực hiện Đại học Kinh tế và QTKD
Loại đề tài Đề tài cấp đại học
Lĩnh vực nghiên cứu Kinh tế học
Chủ nhiệm(*) Nguyễn Ngọc Hoa
Ngày bắt đầu 01/2016
Ngày kết thúc 12/2017

Tổng quan

1. Ngoài nước

Nghiên cứu “FDI, kỹ năng và bất bình đẳng thu nhập ở Đông Nam Á” của Willem te Velde (năm 2002) xem xét nguồn dữ liệu của Tổ chức Lao động quốc tế về tiền lương và việc làm theo nghề của 8 quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn 1985-1998, đưa ra kết luận: Không có bằng chứng cho thấy FDI làm giảm bất bình đẳng tiền lương. Đặc biệt, do hệ thống giáo dục ở Thái Lan không đủ sẵn sàng để hấp thụ các tác động của FDI nên FDI làm tăng bất bình đẳng tiền lương ở quốc gia này. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các quốc gia muốn phát triển tác động tích cực của FDI nên đầu tư đủ nguồn lực chất lượng tốt và nguồn nhân lực phù hợp nếu không sẽ phải đối mặt với khả năng tăng trưởng đồng thời với tăng bất bình đẳng thu nhập.

          Nghiên cứu “FDI và bất bình đẳng thu nhập ở Châu Mỹ Latin”của Dirk Willem te Velde (năm 2003) xem xét nhiều nguồn dữ liệu của 18 quốc gia Châu Mỹ Latin từ năm 1989 đến 2000 và đưa ra kết luận: Thứ nhất, bất bình đẳng thu nhập là liên tục và tương đối cao ở các nước Mỹ Latin; Thứ hai, nghiên cứu đã đưa ra bất bình đẳng thu nhập được xác định bởi ít nhất ba yếu tố: sự phân phối các yếu tố sản xuất, nguồn cung các yếu tố này và lao động; Thứ ba, FDI có tác động tích cực cho sự phát triển, nhưng các quốc gia khác nhau sẽ nhận được các lợi ích và chi phí khác nhau từ FDI; Thứ tư, FDI làm thay đổi tốc độ tăng trưởng và phân phối khu vực của các quốc gia. Bên cạnh đó, FDI không tác động làm giảm bất bình đẳng thu nhập; Thứ năm, Chính phủ và doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ FDI và bất bình đẳng thu nhập.

           Nghiên cứu “Ảnh hưởng của dòng FDI đến bất bình đẳng thu nhập ở các quốc gia quá độ” của Bornali Bhandari (năm 2007) nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và bất bình đẳng thu nhập ở các nước quá độ Đông Âu và Trung Á trong giai đoạn 1990-2002. Sử dụng các hiệu ứng cố định, không có bằng chứng cho thấy dòng FDI vào có ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập nói chung. Tuy nhiên, nghiên cứu thành phần của nó lại thấy FDI làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng thu nhập tiền lương và làm giảm bất bình đẳng thu nhập vốn.

           Nghiên cứu “FDI và bất bình đẳng thu nhập ở Trung Quốc” của Furong Jin (năm 2009) sử dụng hai tiêu chuẩn: đánh giá bất bình đẳng trong cộng đồng thành thị và khoảng cách thu nhập thành thị nông thôn. Dữ liệu bao gồm 25 tỉnh thành của Trung Quốc trong giai đoạn từ 1999 đến 2006, sử dụng mô hình GMM. Nghiên cứu này rút ra: các yếu tố liên quan đến sự tăng trưởng kinh tế như FDI, giáo dục, tư nhân hóa, đô thị hóa, cũng như tăng trưởng kinh tế có sự đóng góp tích cực trong gia tăng bất bình đẳng thu nhập ở Trung Quốc; Không có bằng chứng cho thấy FDI làm mở rộng khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn; Nỗ lực xuất khẩu không tác động đáng kể đến bất bình đẳng thu nhập hoặc khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn.

          Nghiên cứu “FDI và bất bình đẳng thu nhập: bằng chứng từ Hoa Kỳ” của Pandej Chintrakan (năm 2010) sử dụng dữ liệu giai đoạn 1977-2001 với 47 tiểu bang và địa hạt Columbia gồm các chuỗi thời gian liệu tục để nghiên cứu mối quan hệ giữa dòng vốn FDI và bất bình đẳng thu nhập ở Hoa Kỳ cho thấy: Trong ngắn hạn, FDI tác động không đáng kể lên bất bình đẳng thu nhập; trong dài hạn, FDI tác động mạnh và tiêu cực lên bất bình đẳng thu nhập.

Nghiên cứu “FDI và bất bình đẳng thu nhập: bằng chứng từ châu Âu” của DierkHerzer và Peter Nunnenkamp (năm 2011) phân tích mối quan hệ giữa FDI và bất bình đẳng thu nhập của 10 quốc gia châu Âu trong giai đoạn 1980 đến 2000, đưa ra kết luận: trong ngắn hạn, FDI có ảnh hưởng tích cực đến bất bình đẳng thu nhập ở Châu Âu; trong dài hạn, FDI có ảnh hưởng tiêu cực đến bất bình đẳng thu nhập, sự tang lên của FDI làm giảm bất bình đẳng thu nhập và ngược lại; ảnh hưởng của FDI đến bất bình đẳng thu nhập với các quốc gia khác nhau có sự khác biệt.

Nghiên cứu “Tác động của sáp nhập, mua lại và đầu tư mới lên bất bình đẳng thu nhập” của Hong Zhuang và David Griffith (năm 2013) nghiên cứu tác động khác nhau của các vụ sáp  nhập, mua lại xuyên biên giới và đầu tư mới lên phân phối thu nhập của các nước chủ nhà. Sử dụng mẫu gồm 93 quốc gia từ năm 1990 đến 2009 cho thấy hoạt động sáp nhập và mua lại có tác động không đáng kể đến bất bình đẳng thu nhập trong khi đầu tư mới có tác động tích cực đến bất bình đẳng thu nhập.

  2. Trong nước

 Nghiên cứu “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Tuệ Anh (năm 2006) sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến một số ngành kinh tế được lựa chọn ở Việt Nam. Nghiên cứu đã phát hiện ra một số vấn đề khá quan trọng về đầu tư trực tiếp nước ngoài: Thứ nhất, chính sách đầu tư nước ngoài của Việt Nam không kém hấp dẫn so với một số nước trong khu vực và trên thế giới, nhưng hiệu lực là tính thực thi của chính sách thấp làm giảm dòng vốn FDI đăng ký và gây khó khăn cho giải ngân nguồn vốn này; Thứ hai, ghi nhận những đóng góp to lớn của FDI vào tăng trưởng kinh tế nhưng thực trạng hoạt động của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cho thấy các doanh nghiệp FDI tập trung vào các ngành sản xuất thay thế nhập khẩu, sử dụng nguyên liệu nhập khẩu là chính, điều này làm cản trở quá trình tạo ra tác động tràn ở Việt Nam, do vậy làm giảm tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế; Thứ ba, mức độ đóng góp tích cực của FDI vào tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam tăng lên khi Việt Nam chính thức hội nhập vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới; Thứ tư, tác động tràn của FDI trong giai đoạn vừa qua xuất hiện thông qua hai kênh: kênh sản xuất và kênh cạnh tranh.

           Nghiên cứu “Mô hình phân tích mối quan hệ của FDI và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” của Hồ Đắc Nghĩa (năm 2014) sử dụng mô hình vectơ tự hồi quy để đo lường và phân tích thực nghiệp quan hệ của FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990-2012. Nghiên cứu sử dụng mô hình đánh giá ảnh hưởng của FDI đến các doanh nghiệp trong nước bằng cách tiếp cận phương pháp bán tham số Levinsohn-Petrin trên cơ sở sử dụng nguồn số liệu cho ngành chế tác được lấy từ bộ số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2000-2011 với 45.720 quan sát (bao gồm 3.810 doanh nghiệp). Sử dụng mô hình GMM trên số liệu mảng nên đã khắc phục được hiện tượng phương sai của sai số thay đổi và tự tương quan của mô hình, khẳng định quan hệ tương tác hai chiều theo hướng tích cực của FDI và các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế. Nhịp tăng vốn FDI sẽ ảnh hưởng đến nhịp tăng các chỉ tiêu kinh tế xã hội. Quá trình tăng GDP có tính quán tính với chính nó rất rõ ràng và có thể duy trì quán tính trong 2 năm, sau đó tốc độ tăng giảm dần trong các năm tiếp theo.

          Nghiên cứu “Tác động của hộ nhập quốc tế lên bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị tại Việt Nam” của Nguyễn Thị Thanh Huyền (năm 2012) đã phân tích mức độ, xu hướng và nguyên nhân gây ra bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị tại Việt Nam trong những năm qua, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tác giả đã sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống dân cư từ năm 2002 đến năm 2010 và một số dữ liệu vĩ mô để chỉ ra rằng mức chênh lệch thu nhập nông thôn – thành thị tồn tại ở mọi tiêu thức như vùng, học vấn, nghề nghiệp, dân tộc… tuy nhiên với các mức độ khác nhau và dường như đang giảm dần từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Ngoài ra một số nhân tố khác cũng tác động đến mức chênh lệch này như tỷ lệ số hộ sử dụng Internet, trình độ học vấn của chủ hộ,…

          Nghiên cứu “Tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” của Hoàng Thúy Yến (năm 2015) đã đi sâu phân tích thực trạng bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 2000-2012 dựa trên bộ số liệu của Tổng cục Thống kê và số liệu từ 4 cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2004, 2006, 2008, 2010. Sử dụng phương pháp ước lượng tác động cố định và tác động ngẫu nhiên, kết quả cho thấy gia tăng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam ở một ngưỡng nhất định. Chấp nhận bất bình đẳng cao hơn sẽ có được tăng trưởng kinh tế cao hơn khi hệ số GINI lớn hơn 0,37 và sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế khi hệ số GINI nhỏ hơn 0,37. Hệ số bất bình đẳng thu nhập sẽ tăng tới điểm ngưỡng 0,37 thì vẫn tốt cho tăng trưởng và đảm bảo ổn định xã hội.

Tính cấp thiết

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu từ những năm 1980 thông qua các liên doanh khai thác, thăm dò dầu khí, trồng cao su… Ngày 29 tháng 12 năm 1987, Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tiên được Quốc hội Việt Nam thông qua, hoạt động của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài  chính thức được triển khai và mở rộng. Tuy nhiên, đến tháng 11 năm 2006, sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng lên nhanh chóng, góp phần quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng của một số ngành công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết có hiệu quả nhiều vấn đề xã hội và hội nhập kinh tế toàn cầu.

            Các nỗ lực của Chính phủ  đã đem lại những kết quả đáng khích lệ về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam. Tính đến ngày 31/12/2014, Việt Nam có 17.768 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký là 252,715 tỷ USD, trong đó đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp – chế biến – chế tạo chiếm khoảng 9.600 dự án (chiếm 54% số dự án và 56% tổng số vốn đăng ký).  Tính chung năm 2014 tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 21,92 tỷ USD (bằng 98,1% so với năm 2013).

Không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế. Đây là nguồn vốn có vai trò trực tiếp tác động đến phát triển kinh tế Việt Nam cả về số lượng và chất lượng. Theo Niên giám thống kê năm 2014 của Tổng cục Thống kê Việt Nam, khu vực FDI đóng góp 15,16% GDP (2005), 20,09% GDP (2014); trên 11% tổng thu ngân sách Nhà nước; chiếm 28,5% (2005), 18,1% (2013) tổng tài sản cố định của toàn khu vực doanh nghiệp; đã giải quyết việc làm cho 1,22 triệu lao động (2005), 3,0509  triệu lao động (2014). Một trong những đóng góp quan trọng nữa của khu vực FDI là chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực quản lý, vận hành, nhờ đó đã góp phần hình thành một đội ngũ các cán bộ, công nhân có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao. Đến nay, hầu hết các công nghệ tiên tiến và đội ngũ công nhân kỹ thuật cao đều tập trung chủ yếu trong khu vực có vốn FDI. Ngoài ra, FDI cũng góp phần mở rộng hợp tác đầu tư với các nước và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Một trong những tác động tiêu cực của FDI là gây bất bình đẳng và phân tầng xã hội. Số liệu thống kê cho thấy, tình trạng bất bình đẳng thu nhập ngày càng gia tăng trong hơn hai thập kỷ Đổi mới và hội nhập quốc tế do nguồn vốn FDI tập trung nhiều vào các vùng kinh tế trọng điểm, hệ số GINI tăng từ 0,329 (năm 1993), 0,35 (năm 1998) và năm 2012 là 0,424 (Theo điều tra mức sống dân cư các năm của Tổng cục Thống kê). Sự gia tăng bất bình đẳng này chủ yếu gây ra bởi sự gia tăng chênh lệch thu nhập, nghèo đói. Theo kết quả điều ra mức sống hộ gia đình của Tổng cục Thống kê, hệ số chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn đang được rút ngắn (năm 2002 là 2,3 lần; năm 2012 là 1,9 lần) nhưng mức chênh lệch tuyệt đối lại đang tăng lên (năm 2002 là 347 nghìn đồng; đến năm 2012 là 1.409,7 nghìn đồng). Như vậy, chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng ở Việt Nam trong những năm qua. Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị tại Việt Nam”

Mục tiêu

1. Mục tiêu chung

Phân tích ảnh hưởng của nguồn vốn FDI đến bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, đưa ra những gợi mở chính sách nhằm thực hiện thu hút  nguồn vốn FDI đồng thời giảm bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị tại Việt Nam

2. Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và tổng kết thực tiễn về FDI, bất bình đẳng thu nhập và tác động của vốn FDI đến bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị.

- Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút và sử dụng vốn FDI; bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị tại Việt Nam.

- Tìm ra các yếu tố tác động đến bất bình đẳng thu nhập, trong đó chỉ ra được tác động của vốn FDI đến bất bình đẳng thu nhập nông thôn –thành thị tại Việt Nam.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút vốn FDI nhằm tăng trưởng, phát triển nền kinh tế tốt đồng thời giảm bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam. 

Nội dung

Phần mở đầu

Nội dung 1: NC Cơ sở lý luận nghiên cứu tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị

1.1.  Cơ sở lý luận về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1.      Những vấn đề lý luận về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Khái niệm của đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Phân loại hoạt động đầu tư

- Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

              1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

              1.1.3. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài

              1.1.4. Những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài

                         - Tác động tích cực

                         - Tác động tiêu cực

1.2.  Những vấn đề lý luận về bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị

1.2.1. Khái niệm bất bình đẳng

              1.2.2.  Đo lường bất bình đẳng

              1.2.3 Một số quan điểm lý luận về bất bình đẳng nông thôn – thành thị

1.3.  Mối quan hệ giữa FDI và bất bình đẳng thu nhập nông thôn - thành thị

1.4.  Khung lý thuyết về mối quan hệ giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị

Nội dung 2: Phương pháp nghiên cứu và hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

       2.1. Phương pháp nghiên cứu

             2.1.1. Phương pháp thu thập số liệu

             2.1.2. Phương pháp xử lý số liệu

             2.1.3. Phương pháp sử dụng mô hình hồi quy

       2.2. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

Nội dung 3: Ảnh hưởng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới bất bình đẳng nông thôn – thành thị tại Việt Nam

       3.1. Tình hình vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

       3.2. Thực trạng bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị tại Việt Nam

       3.3. Ảnh hưởng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị tại Việt Nam

Nội dung 4: Một số gợi ý chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và giảm bất bình đẳng thu nhập nông thôn -  thành thị tại Việt Nam

       4.1. Định hướng

       4.2. Giải pháp

PP nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp và hệ thống hoá các vấn đề lý luận về bất bình đẳng  nông thôn - thành thị và mối quan hệ với đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng cách khái quát hóa lại lý thuyết cũng như thực nghiệm nghiên cứu về vấn đề này.

Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng phương pháp thống kê, mô tả để đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng nói chung và bất bình đẳng  nông thôn - thành thị tại Việt Nam bằng các số liệu thu thập chủ yếu từ các nguồn công bố chính thức.

Ngoài hai phương pháp trên đề tài còn sử dụng phương pháp phân tích định lượng để hồi qui các biến, lượng hóa các nhân tố tác động tới bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị tại Việt Nam cụ thể bằng các phần mềm Excel, Stata.., để từ đưa ra các gợi ý chính sách phù hợp.

Hiệu quả KTXH

ĐV sử dụng

STT Tên đơn vị Người đại diện
STT Tên người tham gia

  BÌNH LUẬN BẠN ĐỌC(0)

  GỬI BÌNH LUẬN

Họ tên*
Email
Tiêu đề(*)
Nội dung*