Tìm kiếm theo cụm từ
Chi tiết đề tài

Thông tin chung

Tên đề tài (*) NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI THOÁT NGHÈO VÀ TÁI NGHÈO CỦA HỘ NÔNG DÂN TẠI KHU VỰC MIỀN NÚI TỈNH THÁI NGUYÊN.
Cơ quan chủ trì Đại học Thái Nguyên
Cơ quan thực hiện Đại học Kinh tế và QTKD
Loại đề tài Đề tài cấp đại học
Lĩnh vực nghiên cứu Kinh tế học
Chủ nhiệm(*) Đồng Văn Đạt
Ngày bắt đầu 01/2015
Ngày kết thúc 12/2016

Tổng quan

Theo Phương Anh, Trên cơ sở khảo sát 3.700 hộ gia đình tại 12 tỉnh trên cả nước, báo cáo từ cuộc điều tra của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho thấy, thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình ở nông thôn đang giảm dần và tỷ lệ hộ nghèo không giảm trong giai đoạn 2010-2012, tương ứng số hộ tái nghèo tăng lên. Theo đó, thu nhập trung bình của hộ thuần nông chỉ đạt 48.618 đồng/ngày, tức khoảng 1.458.000 đồng/tháng.Thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp và ngoài kinh doanh hộ gia đình đóng góp khoảng 30-40% trung bình thu nhập ròng tại hầu hết các tỉnh. Các công việc chủ yếu là phi chính thức và có tính chất mùa vụ: chỉ khoảng 20% người đi làm cho biết là họ có ký hợp đồng lao động.

Các đề tài nghiên cứu về nghèo đói tại tỉnh Thái Nguyên được nhiều tác giả nghiên cứu: Trần Chí Thiện (2007), “Thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc vùng núi cao tỉnh Thái Nguyên”, mã số B2005-I8-04. Tác giả và nhóm nghiên cứu đề tài cấp Bộ đã lựa chọn hai huyện Định Hóa, Đại từ và Võ Nhai  là  nơi thu thập tài liệu; quy mô mẫu lựa chọn là 400 hộ; trong đó nhóm hộ nghèo 199 (58 hộ dân tộc Kinh , 115 dân tộc Tày, 26 dân tộc khác) và 201 hộ không nghèo (69 hộ dân tộc Kinh, 101 hộ dân tộc Tày và 31 hộ dân tộc khác). Nhóm nghiên cứu sử dụng Hàm sản xuất Cobb – Douglas để chỉ ra một số nguyên nhân ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình các dân tộc vùng núi cao là: tuổi bình quân của chủ hộ, học vấn; nhân khẩu; diện tích đất nông nghiệp; phương tiện sản xuất; vốn vay và hoạt động của tổ chức khuyến nông. Các biến số giải thích này đều có ý nghĩa thông kê và được  nhóm nghiên cứu rút ra kết luận là các nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng đói nghèo của đồng bào dân tộc miền núi tỉnh Thái Nguyên. Theo kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ của Nguyễn Trọng Hoài (2005), Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh , "Nghiên cứu ứng dụng các mô hình kinh tế lượng phân tích các nhân tố tác động đến nghèo đói và đề xuất xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh Đông nam bộ, mã số B2004-22-60TĐ; tác giả và nhóm nghiên cứu đã thu thập số liệu  từ 640 hộ gia đình ở Ninh Thuận và 619 hộ gia đình ở Bình Phước là nguồn số liệu chính cho đề tài. Các số liệu được phân tích dựa trên mô hình kinh tế lượng, với hàm hồi quy Logistic. Biến phụ thuộc là chi tiêu bình quân/người, các biến giải thích là: việc làm, dân tộc thiểu số, diện tích đất canh tác, được vay vốn là những biến số có ý nghĩa thông kê để giải thích nguyên nhân ảnh hưởng tới nghèo đói của hộ gia đình.

Theo kết quả nghiên cứu của Benedito Cunguara và Kei Kajisa tại tỉnh Zambezia và Sofala của Mô – zăm –bích, năm 2002 và 2005, các yếu tố: hộ có nguồn thu nhập phi nông nghiệp; chủ hộ có số năm đi học cao hơn hẳn so với các hộ nghèo, quy mô diện tích đất mà hộ nắm giữ và chấp nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất là những hộ thoát nghèo hoặc những hộ có điều kiện như trên là những hộ thuộc nhóm không phải là hộ nghèo. Theo Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị  Tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam 2004, tổ chức ở Hà Nội cũng nêu rõ: “ Một gia đình có chủ hộ có trình độ trung cấp có mức chi tiêu cao hơn mức trung bình 19% và nếu chủ hộ có trình độ đại học thì mức cao hơn là 31%...”. mặt khác, báo cáo này cũng nêu nhận xét,  nghèo cũng liên quan chặt chẽ tới nhóm dân tộc. ngay cả khi tất cả mọi đặc điểm khác là giống nhau, chi tiêu của một người thuộc hộ dân tộc thiểu số thấp hơn chi tiêu của một người thuộc hộ người Kinh hoặc Hoa là 13%.

Những hộ có cơ cấu thu nhập từ họat động phi nông nghiệp càng lớn, càng có khả  năng thoát nghèo. Kết quả này là phù hợp với nghiên cứu thực tế tại vùng cận Sahara – Châu Phi, cái đó nhấn mạnh tầm quan trọng của thu nhập phi nông nghiệp trong việc giảm nghèo (Reardon và cộng sự, 2007).

Các kết quả được trình bày từ nghiên cứu thực địa tại 35 ngôi làng ở bang Rajasthan, Ấn Độ giữa tháng 5 và tháng 8 năm 2002  của Anirudh Krishna, Đại học Duke, Durham, NC, USA. cho thấy: thứ nhất, sự đa dạng hóa nguồn thu nhập lại là nguyên nhân quan trọng nhất giúp hộ gia đình thoát nghèo trong khu vực này. Thứ hai, Ba nguyên nhân chủ yếu: sức khỏe, nợ nần, và chi phí giao tế xã hội – kết hợp lại chiếm đến 85% trong tất cả trường hợp bị rơi vào cảnh nghèo. Thứ ba, phương pháp nghiên cứu: Phương pháp này dựa nhiều vào các phương pháp đánh giá nghèo mang tính cùng tham gia trước đây, bao gồm Chamber (1997), Narayan và các tác giả khác (2000a), Narayan, Chambers, Shah, và Petesh (2000b), và Salmen (1987).

 

Tính cấp thiết

Giải quyết tình trạng nghèo đói  được Đảng và Nhà nước ta đặt ra trong Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và giảm nghèo.

Giải quyết tình trạng nghèo đói không những nâng cao đời sống kinh tế, mà nó còn cải thiện những vấn đề xã hội, đặc biệt là sự bình đẳng của các tầng lớp cư dân, nhất là cư dân nông thôn so với thành thị.

Nghèo đói của người dân nói chung, người nông dân miền núi nói riêng chịu tác động của nhiều yếu tố, với tính chất và mức độ khác nhau. Các yếu tố này có thể có sự tương tác lẫn nhau và tác động đến nghèo đói. Vòng luần quẩn:  nghèo đói dẫn tới thu nhập thấp, thu nhập thấp dẫn tới đầu tư cho sản xuất, cho học hành của con cái những người nghèo thấp, vì đầu tư thấp dẫn tới kết quả sản xuất thấp và học tập thấp. Vì kết quả sản xuất thấp sẽ không đủ để trang trải các khoản chi phí cho đời sống, quá trình đầu tư tái sản xuất thấp, đầu tư thấp làm cho thu nhập thấp và học hành yếu kém làm cho chất lượng nguồn nhân lực thấp, dẫn tới đói nghèo. Công việc xóa đói, giảm nghèo đã được các địa phương quan tâm, tuy nhiên, thực trạng xuất hiện: vừa xóa nghèo, nhưng cũng xuất hiện thêm người nghèo. Do đó, việc xoá nghèo phải làm thế nào để vừa đảm bảo giảm tỷ lệ hộ nghèo, vừa hạn chế mức thấp nhất số hộ nghèo tái xuất hiện. Trong thực tế, một số hộ gia đình đã thoát nghèo, nhưng theo thời gian, với những nguyên nhân thuộc về bên trong hộ gia đình (biến động nguồn lực lao động, tài sản, các quan hệ mâu thuẫn trong gia đình,…) hoặc những do nguyên nhân từ bên ngoài (rủi ro tự nhiên: hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh,…hay những biến động môi trường sản xuất kinh doanh: biến động giá nông sản theo hướng giảm, chi phí đầu vào tăng cao,…v.v). những nguyên nhân này đã làm cho các hộ đã thoát nghèo lại trở lại tình cảnh đói nghèo.

Khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên là một trong các vùng an toàn khu kháng chiến, tuy nhiên, do những trở ngại về địa hình, giao thông, tập quán canh tác,… đã làm cho đời sống còn nhiều khó khăn. Theo số liệu kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2010 của Tổng cục thống kê, tỷ lệ đói nghèo (theo chuẩn nghèo đói mới của  Chính phủ, giai đoạn 2011 – 2015) thì tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2010 là 14,2%; trong khi đó, vùng Trung du và miền núi phía Bắc là 29,4%, là mức cao nhất cả nước. Đối với tỉnh Thái Nguyên, tỷ lệ nghèo đó là 20,57%, cao gấp gần hai lần so với mức trung bình chung toàn quốc tại cùng thời điểm. Đối với các huyện miền núi, tỷ lệ nghèo đói còn rất cao, huyện Đại Từ, 27,66%; huyện Phú Bình, 24,83%, thậm chí huyện Võ Nhai lên tới 43,2%.

Do đó, giải quyết được bài toán về đói nghèo và đảm bảo bền vững là viêc làm xuất phát từ nhu cầu khách quan, là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nói chung, của khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên nói riêng.

Đề tài được nghiên cứu với các phương pháp phân tích số liệu mới, hiện đại mà nhiều đề tài nghiên cứu về phát triển nông thôn nói chung, nghèo đói của người nông dân nói riêng chưa thực hiện được. kết quả nghiên cứu của đề tài đảm bảo tính khách quan; các giải pháp nêu ra dựa trên những căn cứ khoa học. Kết quả nghiên cứu là một kiểm chứng quan trọng trong lập luận của nhiều người cho rằng: muốn giảm nghèo, cần phải có sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước. Mức độ đầu tư cho những vùng khó khăn càng lớn thì tỷ lệ giảm nghèo càng cao? Ngoài ra, các đề tài nghiên cứu phát triển nông thôn, liên quan tới vấn đề nghèo đói chỉ thường mới tập trung khía cạnh giảm nghèo, chưa phân tích sâu với trường hợp hộ nông dân tái nghèo.

Mục tiêu

Mục tiêu chung

Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến thoát nghèo và tái nghèo  của người nông dân tại khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên.

Mục tiêu cụ thể

- Góp phần phát triển về mặt lý luận và thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng tới thoát nghèo và tái nghèo.

- Đánh giá thực trạng thoát nghèo và tái nghèo của người nông dân tại khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên (từ đó tìm ra các yếu tố ảnh hưởng).

- Đề xuất ra những giải pháp để giảm nghèo bền vững.

Nội dung

1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng tới thoát nghèo và tái nghèo của hộ nông dân.

2. Các yếu tố ảnh hưởng đến  nghèo đói của người nông dân miền núi tỉnh Thái Nguyên:

- Nhóm chính sách hỗ trợ giảm nghèo.

- Đặc điểm của người nghèo (thóat nghèo vừa tái  nghèo) .

- Vai trò của cộng đồng, các tổ chức cộng đồng đối với thóat nghèo và tái nghèo của người nông dân khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên.

- Các yếu tố rủi ro đối với người nông dân nghèo khu vực miền núi tỉnh Thái Nguyên (thiên tai, sức khỏe, thị trường), thường liên quan tới vấn đề tái nghèo.

3. Một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho người nông dân miền núi tỉnh Thái Nguyên.

PP nghiên cứu

1. Phương pháp tiếp cận

- Tiếp cận từ dưới lên (từ hộ nghèo tới các cơ quan ban hành, thực thi chính sách).

- Tiếp cận theo vùng: giả thuyết rằng, các yếu tố ảnh hưởng tới giảm nghèo và thoát nghèo ở mỗi vùng có sự khác nhau, nhất là yếu tố tự nhiên ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp - một ngành mang lại thu nhập quan trọng với kinh tế hộ gia đình.

- Tiếp cận theo dân tộc: Do trình độ và tập quán cạnh tác giữa các hộ dân tộc kinh và dân tộc thiểu số có thể có sự khác biệt.

- Tiếp cận theo thu nhập: các nhóm hộ thoát nghèo; hộ tái nghèo; hộ không nghèo có những yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng khác nhau tới thu nhập.

Khái niệm nghiên cứu tổng quát

Các yếu tố ảnh hưởng đến họat động sản xuất, đời sống của người nông dân nghèo miền núi, các chính sách công hỗ trợ đối với các hộ nghèo và kết quả của các chương trình, dự án giảm nghèo tại vùng miền núi của tỉnh Thái Nguyên

2. Thiết kế nghiên cứu

Dựa trên kết quả đánh giá phân vùng của tỉnh Thái Nguyên về cấu trúc địa hình, kết quả phân loại thu nhập của hộ gia đình các huyện miền núi tỉnh Thái Nguyên để lựa chọn vùng nghiên cứu. Trong các huyện miền núi, chúng tôi dự kiến lựa chọn 3 huyện Định Hoá, Đại Từ và Võ Nhai có các xã thuộc vùng cao cùng với tiêu chí là tỷ lệ hộ nghèo cao, tỷ lệ hộ nghèo trong huyện chiếm tỷ trọng lớn so với toàn tỉnh.

Chọn vùng nghiên cứu: vùng núi thấp, vùng giữa và vùng núi cao

Sau khi đã lựa chọn được đối tượng là những người nghèo từ kết quả danh sách của địa phương, công việc thu thập số liệu ở cấp độ  xã, làng, thôn và đến hộ gia đình sẽ được tiến hành.

Những tài liệu này được phân tích trong quá khứ, những đánh giá mối quan hệ giữa nghèo đói và môi trường sống sẽ được mổ xẻ một cách tỉ mỉ, xem xét biện chứng cùng các dự đoán mối quan hệ này trong tương lai và những hệ quả của nó. Đánh giá một số chỉ tiêu liên quan tới môi trường sống của hộ gia đình, nhóm nghiên cứu sử dụng thang đo Likert  để đánh giá mức độ ước tính mức độ ô nhiễm môi trường trong quan hệ tương tác với điều kiện sống của người dân.

Dựa trên kết quả đánh giá phân vùng của tỉnh Thái Nguyên về cấu trúc địa hình, kết quả phân loại thu nhập của hộ gia đình các huyện miền núi tỉnh Thái Nguyên để lựa chọn vùng nghiên cứu. Trong các huyện miền núi, chúng tôi chọn các 3 huyện Định Hoá,  Đại Từ và Võ Nhai, với tiêu chí là tỷ lệ hộ nghèo trong huyện chiếm tỷ trọng lớn so với toàn tỉnh.

3. Chọn vùng nghiên cứu

Vùng nghiên cứu được lựa chọn đại diện cho việc nghiên cứu  miền núi của tỉnh Thái Nguyên, là đơn vị hành chính cấp huyện, có tỷ lệ hộ nghèo lớn thuộc hạng nhất, nhì (tính tới thời điểm 31/12/2012) trong toàn tỉnh Thái Nguyên, môi trường sống của người nghèo của vùng nghiên cứu là khó khăn...

4. Chọn điểm nghiên cứu

            Dựa trên kết quả đánh giá nhanh nông thôn; kết quả tổng hợp của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội của huyện Định Hóa, Đại Từ và Võ Nhai để lựa chọn các xã, từ đó chọn các thôn, xóm và hộ điều tra.

Nhóm hộ điều tra được phân chia thành 02 nhóm: nhóm hộ nghèo và nhóm hộ không nghèo.

5. Thu thập tài liệu

+ Thu thập tài liệu thứ cấp: Tài liệu đánh giá tình hình đói nghèo của các địa phương , báo cáo đánh giá tình hình nghèo đói của Sở LĐTBXH tỉnh, báo cáo đánh giá của các tổ chức/nhà khoa học về XĐGN.

+ Phương pháp chuyên gia: Nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia hay tổ chức các cuộc hội thảo lấy ý kiến rộng rãi của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý.

+ Phỏng vấn cấu trúc: Hệ thống câu hỏi phỏng vấn được soạn thảo và điều tra thử để kiểm tra mức độ thu thập thông tin có thể và kiểm tra tính chính xác của thông tin thu thập. Các câu hỏi in sẵn tập trung vào việc thu thập các tư liệu số liệu phục vụ nghiên cứu thực trạng nghèo đói, các nguồn lực của hộ gia đình nông dân, nguồn lực của địa phương và những đề nghị của người nghèo về cơ chế, chính sách giúp họ trong việc tiếp cận nguồn lực.

+ Phương pháp RRA, PRA: Nghiên cứu sử dụng các công cụ RRA, PRA để thu thập thông tin trong quá trình nghiên cứu như: Thăm thôn bản, thăm đồng ruộng, thảo luận nhóm, phỏng vấn bán cấu trúc, bản đồ thôn bản, ...

+ Phỏng vấn sâu cán bộ và người dân: Thông qua việc thu thập những người nắm tin chính như cán bộ các Sở, Ban, Ngành liên quan, cán bộ huyện, xã, người có vai trò trong thôn, bản nhằm mục đích thu thập các thông tin chuyên sâu về tình hình đói nghèo của địa phương, thực trạng sử dụng các nguồn lực trong những năm qua, khả năng tiếp cận các nguồn lực của người dân.

+ Tài liệu sơ cấp: Dự kiến được thu thập của năm 2013, 2014, thông qua Hội thảo với cán bộ đại diện các Phòng chức năng của huyện Định Hóa, Đại Từ và Võ Nhai;  điều tra tại các hộ gia đình của huyện này. Dựa trên kết quả đánh giá tình trạng nghèo đói của huyện Định Hóa, Đại Từ và Võ Nhai,  tôi dự kiến các tiêu thức và lựa chọn các xã sau:


Bảng - Lựa chọn mẫu điều tra

Stt

Tên xã

cỡ mẫu

Tiêu thức lựa chọn

1

 

 

Xã miền núi, vùng cao; sản xuất nông nghiệp

2

 

 

Xã miền núi; có điều kiện dịch vụ thương mại

3

 

 

Xã miền núi, dân cư thưa thớt, tỷ lệ hộ nghèo cao

….

……

 

Tổng số

 

 

 

Phương pháp chọn hộ

- Chọn ngẫu nhiên, phân tầng: từ tổng thể, chia thành 2 nhóm hộ nghèo và không nghèo; đối với hộ nghèo gồm có các hộ chưa thóat khỏi nghèo và hộ tái nghèo; đối với hộ không nghèo, có cả hộ thoát nghèo.

- Các hộ được chọn, trước hết dựa trên kết quả phân loại nhóm hộ  (theo danh danh sách hộ nghèo do Phòng Lao động thương binh và xã hội của 3 huyện Định Hóa, Đại Từ và Võ Nhai cung cấp); sau đó, các xã được chọn được nhóm căn cứ vào đặc điểm địa hình là các xã miền núi. Đối với các hộ không nghèo, nhóm nghiên cứu đề nghị trưởng các thôn điều tra cung cấp danh sách các hộ ngẫu nhiên.

Số lượng hộ chọn để thu thập số liệu khoảng 300 và được thu thập tại các huyện dự kiến: ĐỊnh Hóa, Đai Từ và Võ Nhai.

6. Phương pháp xử lý và phân tích

+ Quá trình xử lý số liệu được thực hiện trên phần mềm SPSS.

 Phương pháp xử lý

            + Mô hình kiểm định logit: Sử dụng mô hình Logit để xem xét các yếu tố tác động đến vấn đề nghèo đói của hộ. Mô hình được thực hiện như sau:

Đặt Y =  1 nếu là hộ nghèo; Y = 0 nếu không phải hộ nghèo

Khi đó:

Pi là xác suất hộ nghèo (với Y =1)

b1 , b2,.. bk  là các hệ số hồi quy.

Xi (i = 2,k) là các biến độc lập và giá trị đã được xác định.

X2: diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân.

X3: số lao động trong hộ gia đình.

X4: Số khẩu ăn theo tính trên lao động của hộ.

X5: thu nhập từ hoạt động làm thuê phi nông nghiệp.

X6: trình độ văn hóa của chủ hộ

Mô hình được viết lại như sau:

 (1)

Sau khi ước lượng các hệ số hồi quy của mô hình bằng hàm logistic, ta đi xem xét ý nghĩa của các hệ số hồi quy.

Hệ số Odd: Tham số tỷ số nguy cơ (Odds Ratio - OR)

Chỉ số thống kê quan trọng trong hồi qui Logistics là tỷ số nguy cơ (Odds Ratio – OR). Trong tiếng anh odd có nghĩa là nguy cơ hay khả năng. Nói cách khác odd là tỷ số của 2 giá trị của một biến nhị phân.

Đặt hệ số Odd là P0.

(2)

 Trong đó P0 là xác suất hộ nghèo ban đầu, O0 là hệ số chênh lệch nghèo và không nghèo ban đầu.

Từ (1) và (2) suy ra:

(3)

Giả định khi các yếu tố khác không đổi, nếu tăng giá trị của Xk lên 1 đơn vị, thì hệ số chênh lệch nghèo và không nghèo sẽ là:

 

 

Hay                              (4)

Thay (3) vào (4) ta có:

 (5)

Như vậy, khi các yếu tố khác không đổi nếu Xk tăng lên 1 đơn vị thì xác suất nghèo của hộ sẽ dịch chuyển từ P0 sang P1.

+ Mô hình kiểm định theo dạng hàm cực biên (Frontier)

+ Mô hình phân tích số liệu mảng

Phương pháp phân tổ

Phương pháp này được sử dụng trong phân vùng nghiên cứu (vùng nghiên cứu là vùng núi- như đã nói trên); phân nhóm hộ nghèo. Đối với nhóm hộ nghèo, được phân thành nhóm hộ nghèo và cận nghèo và nhóm hộ không nghèo gồm hộ trung bình và hộ khá khi phân tích mô hình CHI – SQURE.

Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh được sử dụng rất nhiều trong đề tài nghiên cứu. Thực chất, dưới dạng thứ nhất là dãy số theo thời gian, sử dụng phương pháp so sánh, người ta có được nhận định về xu hướng của sự vật, hiện tương, đồng thời, tính quy luật của loại số liệu này thường cung cấp cho các nhà phân tích những dự đoán về kết quả có thể có trong tương lai.

 Chỉ tiêu phân tích

 Nhóm chỉ tiêu phân tích tình hình nghèo đói, nguyên nhân nghèo đói của người dân

Nhóm chỉ tiêu phản ánh đặc diểm cơ bản của hộ gia đình.

 Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của hộ gia đình.

Nhóm chỉ tiêu phản ánh các yếu tố xã hội và địa phương ảnh hưởng tới đời sống của hộ.

Nhóm chỉ tiêu phản ánh chi phí sản xuất của hộ gia đình.

Nhóm chỉ tiêu phản ánh kỹ thuật canh tác của hộ gia đình.

Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất của hộ gia đình.

Nhóm chỉ tiêu phản ánh chi tiêu của hộ gia đình, sự bất bình đẳng thu nhập của hộ.

Hiệu quả KTXH

- Kinh tế, xã hội: Đề xuất giải pháp giảm nghèo bền vững, thu hẹp khoảng cách phân hóa giàu nghèo, từng bước nâng cao đời sống bộ phận dân cư nghèo trên mọi mặt: cải thiện kinh tế, hưởng thụ đời sống văn hóa, tinh thần; được chăm sóc y tế tốt hơn và hưởng thụ điều kiện giáo dục ngày một tốt hơn.

ĐV sử dụng

- Giải pháp giảm nghèo bền vững là cơ sở khoa học quan trọng cho các nhà lập chính sách của Ủy ban nhân tỉnh Thái Nguyên và làm căn cứ để Sở Lao động thương binh – Xã hội tỉnh Thái Nguyên, Ủy ban dân tộc tỉnh Thái Nguyên thực hiện tốt chương trình Quốc gia giảm nghèo, giai đọan 2011- 2020.

- Cơ sở lý luận hiện đại về các yếu tố ảnh hưởng tới thoát nghèo và tái nghèo của hộ nông dân sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng đối với môn học “ Kinh tế phát triển” được giảng dạy trong Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh. Đồng thời, cơ sở lý luận và các yếu tố ảnh hưởng đến thoát nghèo và tái nghèo của tỉnh Thái Nguyên là căn cứ quan trọng để các cơ quan chức năng tham mưu cho UBND tỉnh Thái Nguyên thực hiện tốt mục tiêu tam nông: Nông dân – Nông nghiệp và nông thôn.

STT Tên đơn vị Người đại diện
1 Sở Lao động thương binh và Xã hội tỉnh Thái Nguyên
2 Phòng Lao động Thương binh - Xã hội các huyện Định Hóa, Đại Từ, Võ Nhai
STT Tên người tham gia
1 Nguyễn Thị Gấm
2 Đồng Văn Đạt
3 Tạ Việt Anh

  BÌNH LUẬN BẠN ĐỌC(0)

  GỬI BÌNH LUẬN

Họ tên*
Email
Tiêu đề(*)
Nội dung*